Học viện Nông nghiệp Việt Nam hướng tới có ngành trong top 150 châu Á

Đến năm 2030, Học viện Nông nghiệp Việt Nam phấn đấu vào nhóm 400-500 đại học hàng đầu châu Á, đồng thời có ít nhất một ngành, lĩnh vực thuộc nhóm 150 châu Á.

Phó Thủ tướng Lê Thành Châu vừa ký Quyết định số 1612/QĐ-TTg ngày 20/8/2026, phê duyệt Đề án phát triển, nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn Thủ đô. Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 2 cơ sở giáo dục đại học nằm trong nhóm 150 trường đại học hàng đầu châu Á.

Học viện đặt mục tiêu có ít nhất một ngành hoặc lĩnh vực trong số Nông nghiệp, Công nghệ sinh học, Công nghệ thực phẩm, Thú y thuộc nhóm 150 các trường đại học hàng đầu châu Á. Ảnh: VNUA.

Học viện đặt mục tiêu có ít nhất một ngành hoặc lĩnh vực trong số Nông nghiệp, Công nghệ sinh học, Công nghệ thực phẩm, Thú y thuộc nhóm 150 các trường đại học hàng đầu châu Á. Ảnh: VNUA.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam là một trong 12 cơ sở giáo dục đại học dẫn dắt được xác định tại Đề án. 11 cơ sở giáo dục còn lại là Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Y Hà Nội, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Trường Đại học Giao thông vận tải, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Phenikaa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học VinUni và Trường Đại học Xây dựng Hà Nội.

Theo lộ trình được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2030, Học viện Nông nghiệp Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 400-500 trường đại học hàng đầu châu Á theo bảng xếp hạng QS Asia University Rankings (QS châu Á).

Đồng thời, Học viện đặt mục tiêu có ít nhất một ngành hoặc lĩnh vực trong số Nông nghiệp, Công nghệ sinh học, Công nghệ thực phẩm, Thú y thuộc nhóm 150 các trường đại học hàng đầu châu Á theo bảng xếp hạng QS World University Rankings by Subject (QS thế giới theo lĩnh vực).

Đến năm 2035, mục tiêu được nâng lên nhóm 300-400 các trường đại học hàng đầu châu Á và có ít nhất một ngành hoặc lĩnh vực trong số Nông nghiệp, Công nghệ sinh học, Công nghệ thực phẩm, Thú y thuộc nhóm 100 các trường đại học hàng đầu châu Á theo bảng xếp hạng QS World University Rankings by Subject (QS thế giới theo lĩnh vực).

Học viện cũng được định hướng phát triển trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo về nông nghiệp số, công nghệ sinh học, thú y, công nghệ thực phẩm và môi trường.

Lộ trình đặt ra nhiều chỉ tiêu cụ thể. Đến năm 2030, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ của Học viện đạt 70%; thu hút 25 giảng viên, chuyên gia từ nước ngoài; số lượng công bố quốc tế tăng bình quân 18%/năm; tỷ lệ nguồn thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt 10% tổng thu.

Cùng thời điểm, Học viện phấn đấu có 100 sinh viên quốc tế, 8 chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài và 20 chương trình đào tạo đạt kiểm định quốc tế, tương đương 22% tổng số chương trình. Đến năm 2035, các con số tương ứng được nâng lên 150 sinh viên quốc tế, 10 chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài và 40 chương trình đạt kiểm định quốc tế, chiếm 43%.

Để thực hiện các mục tiêu trên, giai đoạn 2026-2035, Học viện cần triển khai 6 chương trình, đề án, dự án trọng tâm. Trong đó có chương trình đầu tư phát triển Học viện Nông nghiệp Việt Nam thành đại học thông minh – xanh – đổi mới sáng tạo; đề án đổi mới chương trình đào tạo, kiểm định chất lượng và nâng cao xếp hạng; đề án phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và nhóm nghiên cứu mạnh.

Ba nhiệm vụ còn lại gồm chương trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa sản phẩm; dự án chuyển đổi số, xây dựng hệ thống quản trị đại học thông minh; chương trình phát triển học bổng, khởi nghiệp, hợp tác và phục vụ cộng đồng. Nguồn lực thực hiện được huy động từ ngân sách nhà nước, nguồn thu hợp pháp của Học viện, doanh nghiệp, tài trợ, xã hội hóa và các nguồn vốn hợp pháp khác.

Ở quy mô toàn đề án, Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển ít nhất 12 cơ sở giáo dục đại học dẫn dắt; ít nhất 2 cơ sở thuộc nhóm 150 đại học hàng đầu châu Á và ít nhất 6 cơ sở có một ngành, lĩnh vực trở lên thuộc nhóm 200 châu Á. Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt ít nhất 45%, tỷ lệ người học các ngành STEM đạt ít nhất 40%.

Đến năm 2035, Hà Nội phấn đấu có ít nhất 4 cơ sở giáo dục đại học nằm trong nhóm 150 trường đại học hàng đầu châu Á; tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt ít nhất 60%. Tầm nhìn đến năm 2045, ít nhất 50% cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn Thủ đô trở thành các trung tâm đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao tri thức, công nghệ ngang tầm khu vực và thế giới.

Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/hoc-vien-nong-nghiep-viet-nam-huong-toi-co-nganh-trong-top-150-chau-a-d827320.html