• Home /
  • Thông báo
  • / Nghiên cứu về Phát hiện và xác định Tospovirus ở Việt Nam

Nghiên cứu về Phát hiện và xác định Tospovirus ở Việt Nam

Tospovirus là các thành viên thuộc chi Tospovirus, họ Bunyaviridae (Plyusnin và cộng sự, 2012). Tospovirus có hạt dạng hình cầu, đường kính 80–120 nm, được bao bọc bởi một lớp màng lipid mang hai loại glycoprotein bề mặt ($G_N$ và $G_C$), bao bọc ba khối nucleocapsid bên trong. Các nucleocapsid này chứa ba đoạn RNA mạch đơn, dạng tuyến tính được ký hiệu là L (lớn), M (trung bình) và S (nhỏ), mỗi đoạn liên kết với nhiều bản sao protein N (nucleocapsid) do virus mã hóa và một vài bản sao enzyme RNA-dependent RNA polymerase (RdRp). Đoạn RNA L có chiều âm (negative sense) và mã hóa cho RdRp. Các đoạn RNA M và S có chiến lược mã hóa hai chiều (ambisense); trong đó đoạn M mã hóa cho hai glycoprotein màng bao cùng một protein phi cấu trúc (NSm), còn đoạn S mã hóa cho protein N và một protein phi cấu trúc khác (NSs) (Plyusnin và cộng sự, 2012; Prins & Goldbach, 1998).

Tospovirus độc đáo so với các thành viên khác trong họ Bunyaviridae ở chỗ chúng đều nhiễm trên thực vật, trong khi tất cả các thành viên còn lại của họ này đều gây nhiễm trên động vật. Tospovirus gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều loại cây rau và cây cảnh quan trọng trên toàn thế giới. Việc nhiễm tospovirus thường dẫn đến hiện tượng đốm, héo và cuối cùng là làm chết cây bị nhiễm (Pappu và cộng sự, 2009; Persley và cộng sự, 2006). Loài chuẩn (type member) của chi TospovirusTomato spotted wilt virus (TSWV – virus gây bệnh héo đốm cà chua), đây là một trong những virus hại thực vật có ý nghĩa kinh tế nhất thế giới, được ghi nhận nhiễm trên hơn 1.000 loài thực vật thuộc hơn 80 họ của cả cây một lá mầm và hai lá mầm (German và cộng sự, 1992), đồng thời được xếp vào nhóm 10 loài virus thực vật quan trọng nhất (Rybicki, 2015; Scholthof và cộng sự, 2011).

Trong tự nhiên, tospovirus được truyền bởi các loài bọ trĩ thuộc họ Thripidae theo phương thức tuần hoàn và nhân lên trong cơ thể môi giới (circulative and propagative). Ít nhất 15 loài bọ trĩ đã được xác nhận là môi giới truyền bệnh tospovirus. Trong đó, bốn loài quan trọng nhất là bọ trĩ phương Tây (Frankliniella occidentalis), bọ trĩ thuốc lá (F. fusca), bọ trĩ hành (Thrips tabaci) và bọ trĩ dưa (T. palmi) (Rotenberg và cộng sự, 2015).

Cho đến nay, 11 loài tospovirus đã được Ủy ban Quốc tế về Phân loại Virus công nhận chính thức (ICTV 2017), nhưng có ít nhất 17 loài đã được mô tả bổ sung được cho là thuộc chi này (Oliver & Whitfield, 2016). Dựa trên trình tự gen N, tất cả các tospovirus đã biết có thể được chia thành ít nhất năm phân nhánh phả hệ (clade) riêng biệt, bao gồm phân nhánh TSWV, phân nhánh Soybean vein necrosis virus (SVNV), phân nhánh Iris yellow spot virus (IYSV), phân nhánh Watermelon silver mottle virus (WSMoV), và phân nhánh Groundnut yellow spot virus (GYSV) dựa theo tên của loài chuẩn trong mỗi phân nhánh. Trong cùng một phân nhánh, các loài bọ trĩ môi giới của các loài thành viên là tương tự nhau, và các phân nhánh này cũng tương ứng với phân bố địa lý của từng loài (Oliver & Whitfield, 2016). Mặc dù loài chuẩn của chi là TSWV cùng với IYSV có phân bố trên toàn thế giới, về tổng thể, các loài trong phân nhánh TSWV và SVNV được coi là thuộc Thế giới Mới (Châu Mỹ), trong khi các loài thuộc phân nhánh WSMoV, GYSV và IYSV được coi là thuộc Thế giới Cũ (Châu Á) (Gilbertson và cộng sự, 2015; Oliver & Whitfield, 2016; Pappu và cộng sự, 2009).

Trong nghiên cứu của chúng tôi, các kỹ thuật bao gồm ELISA, RT-PCR sử dụng cặp mồi thoái hóa (degenerate primers) và giải trình tự gen đã được sử dụng để phát hiện và định danh các tospovirus từ các mẫu cây cà chua, ớt, họ bầu bí, cúc và xà lách được thu thập tại Việt Nam từ năm 2012 đến năm 2017.

Nghiên cứu đã xác định được một số loài như Tomato spotted wilt virus (TSWV), Tomato necrotic ringspot virus (TNRV), Capsicum chlorosis virus và một tospovirus mới dự đoán có quan hệ gần gũi với Watermelon silver mottle virus (WSMoV). Ngoại trừ TSWV, các virus còn lại đều chưa từng được ghi nhận tại Việt Nam trước nghiên cứu này.

Hà Viết Cường và cộng sự