Lan kim tuyến (Anoectochilus lylei Rolfe ex Downies) hay còn gọi là lan gấm hoặc cây kim cương là một loài thực vật thuộc chi Anoectochilus, họ Orchidaceae. Họ Orchidaceae có khoảng 45 loài có giá trị dược liệu cao, nhiều loài đã được thương mại hóa trên thế giới như A. formosanus Hayata, A. setaceus Blume, A. roxburghii (Wall.) Lindl (Phùng Văn Phê & cs., 2010b; Martin, 2005). A. lylei nổi bật với những đường gân vàng hoặc bạc lấp lánh như kim tuyến trên lá, là một loài lan quý hiếm, được dùng trong y học cổ truyền để hỗ trợ sức khỏe, giảm huyết áp, chống viêm, an thần và chống lão hóa; hiện nay đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng nên việc nhân giống và bảo tồn rất quan trọng (Martin, 2005; Shenyi & cs., 2017; Phan Xuân Huyên & cs., 2016; Mengyi & cs., 2020). Ngoài ra, việc canh tác loại dược liệu trên còn gặp khá nhiều khó khăn do chưa có một quy trình nuôi trồng cũng như cung cấp nguồn giống chuẩn. Các biện pháp nhân giống truyền thống hiện nay không thể đáp ứng nhu cầu về cả số lượng và chất lượng cho thị trường tiêu thụ. Nhiều nghiên cứu đã xây dựng thành công quy trình nhân giống in vitro trên các loài thuộc chi lan kim tuyến, điển hình như loài A. formasanus từ chồi (Ket & cs. (2004), loài A. Roxburghii từ phôi hạt chín (Phùng Văn Phê & cs., 2010a) và loài A. setaceus Blume (Nguyễn Quang Thạch & Phí Thị Cẩm Miện, 2012; Đỗ Mạnh Cường & cs., 2014). Riêng đối với loài A. lylei, nghiên cứu nhân giống in vitro cũng đã được Phan Xuân Huyên & cs. (2016) thực hiện. Tuy nhiên, các thông số sinh trưởng và hệ số nhân chồi từ nghiên cứu này vẫn chưa cao so với các nghiên cứu nhân giống trên các loài cùng chi. Nhằm cải thiện hệ số nhân, tạo ra số lượng lớn cây giống đồng đều với chất lượng sinh trưởng tốt hơn, việc tiến hành nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro cây A. lylei nhằm tối ưu hệ số nhân giống là hết sức cần thiết.
Công nghệ nhân giống in vitro là kim chỉ nan cho mọi vấn đề liên quan đến nguồn cây giống ưu việt vựt trội, sạch, số lượng lớn theo yêu cầu và mong muốn của nhà sản xuất ở thời đại công nghiệp. Các nhà nghiên cứu của Học viện Nông nghiệp sẽ là cầu nối, để đưa các ứng dụng Khoa học Công nghệ vào thực tiễn sản xuất nhằm phục vụ sản xuất thực phẩm chức năng, góp phần năng cao sức khỏe cộng đồng. Chính vì thế chúng tôi đã bố trí các thí nghiệm sau với cây lan Kim tuyến và các kết quả có được đã được minh họa bởi một số hình ảnh sau:
Ảnh lan A. lylei nuôi cấy in vitro ở các giai đoạn khác nhau
Ghi chú: Giai đoạn vào mẫu (A); Giai đoạn tạo chồi (B); Giai đoạn nhân nhanh(C); Giai đoạn hình thành cây hoàn chỉnh; Giai đoạn chuẩn bị ra ngôi (E); Giai đoạn trồng ngoài vườn ươm
Nghiên cứu của chúng tôi đã được thực hiện nhằm mục đích hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro cây lan kim tuyến (Anoectochilus lylei Rolfe ex Downies). Các thí nghiệm đã được tiến hành về: ảnh hưởng của chế độ khử trùng đến tỉ lệ sống và phát sinh hình thái; Ảnh hưởng của nồng độ BAP, IBA đến khả năng tạo cụm chồi in vitro A. lylei; ảnh hưởng của nồng độ kinetin, IBA đến khả năng nhân nhanh chồi in vitro A. lylei; ảnh hưởng của nồng độ IBA, than hoạt tính đến khả năng tạo rễ của chồi in vitro A. Lylei và ảnh hưởng của độ ẩm, giá thể đến tỉ lệ sống của lan A. lylei in vitro trong giai đoạn vườn ươm. Kết quả nghiên cứu đã xác định được chế độ khử trùng kép bằng dung dịch Ca(OCl)2 10% trong thời gian 10 phút kết hợp với dung dịch H2O2 3% với thời gian 5 phút là tối ưu nhất cho tỉ lệ mẫu sống và phát sinh hình thái, đạt 98% sau 4 tuần nuôi cấy. Môi trường nuôi cấy tối ưu để tạo cụm chồi là môi trường MS + 20 g/L sucrose + 6,5 g/L agar + 30 mL/L nước dừa + 2 mg/L BAP + 0,1 mg/L IBA cho tỉ lệ tạo cụm chồi lan A. lylei cao nhất (đạt 81,33%) và số chồi nhiều nhất (đạt 6,25 chồi/cụm) sau 8 tuần nuôi cấy. Môi trường nhân nhanh chồi in vitro A. lylei là môi trường MS + 20 g/L sucrose + 6,5 g/L agar + 30 mL/L nước dừa + 1,0 mg/L kinetin + 1,0 mg/L IBA cho hệ số nhân chồi cao nhất đạt 15,75 chồi/mẫu, chiều cao chồi trung bình đạt 3,35 cm sau 8 tuần nuôi cấy. Môi trường ra rễ phù hợp nhất là MS + 6,5 g/L agar + 20 g/L sucrose + 0,7g/L than hoạt tính cho tỉ lệ chồi tạo rễ đạt 100%, số rễ trung bình đạt 7,2 rễ/cây và chiều dài rễ trung bình đạt 10,9 cm sau 8 tuần nuôi cấy. Hỗn hợp giá thể đất phù sa + trấu hun + phân chuồng (tỉ lệ 1:1:1) với độ ẩm 80 – 90% phù hợp nhất cho sự sinh trưởng của cây con lan A. lylei trong vườn ươm với tỉ lệ sống đạt 100%, sau 60 ngày nuôi trồng.
Cây giống in vitro cây lan kim tuyến sẽ tạo ra nguồn nguyên liệu, để phục vụ cho việc phát triển của đa ngành, cụ thể là ngành Nông nghiệp đã phối hợp cùng ngành y dược, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Vũ Ngọc Lan – Bệnh viện Cây trồng – Học viện Nông nghiệp Việt Nam

